Hotline Quản Lý: 0975.399.039 - 01648.053.288

Email: dichvutambe68@gmail.com

A+ A A-

Nguyên nhân bệnh đau thượng vị

1. Đau thượng vị là gì?

Đau thượng vị là một dấu hiệu bệnh lý của đau dạ dày. Đau thượng vị là đau ở vùng bụng trên giới hạn giữa khung sườn. Thông thường những người bị đau thượng vị thường cảm thấy đau suốt hoặc ngay sau khi ăn hoặc khi họ nằm xuống ngay sau khi ăn.

Đau thượng vị là triệu chứng thường thấy nhất ở bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) hoặc là chứng ợ nóng. Đau thượng vị có thể liên quan đến việc thức ăn trong dạ dày trào ngược lên hầu họng gây ra viêm và cảm giác đau nóng.

dau-thuong-vi

2. Nguyên nhân đau thượng vị

* Các nguyên nhân thường thấy của đau thượng vị
Đau thượng vị có thể do các nguyên nhân thường gặp sau:
+ Chứng khó tiêu
+ Viêm dạ dày (viêm biểu mô lót trong lòng dạ dày)
+ Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD), một trường hợp acid trong dạ dày trào ngược lên thực quản
+ Chứng ợ nóng
+ Không tiêu hóa được đường lactose
+ Thai kỳ
+ Tác dụng phụ của thuốc như aspirin và thuốc chống viêm không có steroid (NSAIDs).
* Các nguyên nhân khác gây đau thượng vị
+ Thực quản Barrett (sự thay đổi tế bào thực quản có thể dẫn đến ung thư thực quản)
+ Viêm thực quản
+ Sỏi mật hay bệnh lý về túi mật
+ Thoát vị khe hoành (dạ dày nhô vào trong khoang ngực qua khe của cơ hoành)
+ Ung thư tụy
+ Viêm tụy
+ Loét đường tiêu hóa hoặc loét gây thủng đường tiêu hóa, gây xuất huyết dạ dày hoặc loét ruột non
+ Ung thư thực quản hay ung thư dạ dày
* Các nguyên nhân nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng của đau thượng vị
Trong một vài trường hợp, đau thượng vị có thể là một triệu chứng nghiêm trọng hay trường hợp đe dọa tính mạng cần phải được cấp cứu ngay lập tức, gồm có các nguyên nhân:

+ Đau thắt ngực
+ Nhồi máu cơ tim

Thường thì đau thượng vị đơn thuần không gây ra các biến chứng nghiêm trọng. Tuy nhiên, nó vẫn ảnh hưởng đến cuộc sống của người bệnh do gây đau hoặc khó chịu khi ăn. Việc này có thể làm thay đổi cách ăn uống và gây ra sụt cân không chủ ý. Hơn nữa, đau thượng vị có thể giống với các triệu chứng đau tim nghiêm trọng. Vì vậy khi có dấu hiệu đau cần phải đi kiểm tra bác sỹ ngày để chữa trị kịp thời.

Thuốc chữa bệnh đau dạ dày Hoa Việt vị quản thống
thuoc-chua-benh-dau-da-day-hvvqt

 Bài viết đề xuất:

Last Updated on Saturday, 29 July 2017 15:43

Hits: 11

Viêm dạ dày mạn tính

Thuật ngữ viêm, đau dạ dày thường để giải thích một số triệu chứng nhẹ hay tạm thời như ợ chua, ăn khó tiêu...

Có 2 nhóm: viêm dạ dày cấp tính và viêm dạ dày mạn tính. Mỗi nhóm có những loại khác nhau.

benh-dau-da-day-vddct

Viêm dạ dày mạn tính có những biểu hiện cụ thể như đau vùng thượng vị, đau âm ỉ, cảm giác rát bỏng, kèm theo các triệu chứng chán ăn, cơ thể hay bị mệt mỏi. 
Có 2 trường hợp viêm dạ dày mạn tính là:

1. Viêm dạ dày vùng đáy vị: có 2 đối tượng bệnh nhân:
- Ở người lớn thiếu máu ác tính. Trong nhóm thiếu máu ác tính, bệnh có nguyên nhân tự miễn dịch. Những bệnh nhân này có tổn thương nặng ở niêm mạc như viêm teo, teo dạ dày với mất hoàn toàn hay gần hoàn toàn các tế bào thành, vì vậy sẽ thiếu hay không có acid. Có 3 tự kháng thể chống lại tế bào thành, trong đó có 2 nhằm vào yếu tố IF (intrinsic factor: yếu tố nội tại), được tiết ra bởi các tế bào thành làm ngăn chặn sự hấp thu sinh tố B12 và đưa đến thiếu máu ác tính. Loại tự kháng thể thứ 3 thì tác động trực tiếp và làm tổn thương tế bào thành, có trong 80-90% bệnh nhân bị thiếu máu ác tính.
- Trong nhóm bệnh nhân già không có thiếu máu ác tính thì cũng có 60% có tự kháng thể chống lại tế bào thành nhưng không có kháng thể chống yếu tố nội tại. Một số bệnh nhân này có thiếu máu nhược sắc. Bệnh cũng có trên thân nhân của những bệnh nhân của nhóm trên. Trên những thân nhân này lại không có các tự kháng thể. Vì vậy, nguyên nhân sinh bệnh trên nhóm bệnh nhân này vẫn chưa được biết rõ.
2. Viêm dạ dày vùng hang vị:
- Có nguyên nhân khác hẳn với viêm dạ dày vùng đáy vị. Rất ít trường hợp có tự kháng thể chống lại tế bào tiết gastrin. Thường thường, bệnh nhân đồng thời có thêm bệnh loét dạ dày cho nên người ta nghĩ rằng có thể nguyên nhân của cả 2 bệnh là sự rối loạn hoạt động cơ vòng môn vị, sự trào ngược acid mật và lysolecithin.
- Hình thái giải phẫu bệnh
Tổn thương có thể có ở hầu hết dạ dày, hoặc từng vùng xen kẽ, hoặc giới hạn ở đáy vị và thân hoặc ở hang vị. Dù ở đâu, tổn thương đều như nhau.
Trong viêm nông, lớp niêm mạc bị phẳng (mất nếp gấp) với thấm nhập limphô bào và tương bào trong lớp mô đệm giới hạn ở 1/3 trên của niêm mạc.
Trong viêm dạ dày teo đét, lớp niêm mạc bị mỏng và phẳng hơn, thấm nhập tế bào viêm sâu hơn, các tuyến bị teo đét và có những thay đổi của những tế bào bề mặt thượng mô. Ở đáy vị, còn rất ít tế bào thành, các tuyến bị teo đét, phần không bị teo đét thì bị dãn thành bọc lót bởi các tế bào nhầy hoặc tế bào chuyển sản ruột. Ở hang vị, các thay đổi cũng giống như ở đáy vị. Điểm đặc biệt là, trong loại viêm dạ dày vùng đáy vị, tổn thương có thể có cả ở hang vị, còn trong loại viêm dạ dày vùng hang vị thì tổn thương chỉ giới hạn ở hang vị.
Trong bệnh teo dạ dày mạn tính, các nếp gấp niêm mạc bị phẳng hoặc mất hẳn, niêm mạc bóng láng. Các tuyến vị teo đét ngắn lại, đôi khi dãn thành bọc. Thượng mô bề mặt và phần lõm sâu của niêm mạc dạ dày, có dạng của các tế bào đài chế tiết nhầy xen lẫn với thượng mô ruột có vi nhung mao.
Trong viêm đáy vị kèm thiếu máu ác tính, các tế bào thành biến mất gần như hoàn toàn trên các tuyến bị teo hay các tuyến còn lại. Ngược lại, trong viêm hang vị, vẫn còn tế bào thành ở thân và ở đáy dạ dày. Thượng mô bề mặt có thể bị chuyển sản hoặc nghịch sản.
Biểu hiện lâm sàng
Bệnh có thể không có triệu chứng hoặc có triệu chứng giống như viêm cấp tính gồm đau, khó chịu ở thượng vị, buồn nôn, ói mửa, đôi khi xuất huyết.
Viêm teo đét đáy vị thường được để ý hơn do tình trạng thiếu máu ác tính và giảm acid chlohydric trong dịch vị.
Trong viêm hang vị, tình trạng tiết acid vẫn bình thường hoặc thấp. Đặc biệt là mối liên hệ: bệnh loét dạ dày thường kèm viêm hang vị (nhưng ngược lại thì không). Người ta không biết chắc loét hay viêm có trước. Nhưng vì khi loét đã lành thì viêm vẫn còn nên có thể viêm có trước và tạo nên loét.
Cần chú ý rằng cả 2 bệnh viêm dạ dày teo đét và teo đét dạ dày dù ở hang vị hay đáy vị đều là tổn thương tiền ung thư. Xuất độ biến thành ung thư cao hơn ở nhóm bệnh viêm đáy vị kèm thiếu máu ác tính, với tỉ lệ 7-10% số bệnh nhân.
3. Viêm dạ dày phì đại
Nhóm bệnh hiếm xảy ra, với các nếp gấp niêm mạc dạ dày to có dạng như cuộn não. Thực ra, niêm mạc dạ dày không bị phì đại mà bị viêm và có tăng sản của tế bào thượng mô chế tiết nhầy.
4. Viêm dạ dày dạng u hạt
Bệnh hiếm gặp, có thể xảy ra trên những bệnh nhân trẻ, bị bệnh sarcoid, bệnh Crohn, nhưng thường nhất là xảy ra đơn độc trên bệnh nhân có tuổi trên 40.
5. Viêm dạ dày có bạch cầu ưa eosin
Xảy ra trên những bệnh nhân bị bệnh dị ứng, bệnh nhân có thể có bệnh suyễn. Niêm mạc dạ dày, đôi khi cả lớp sâu hơn, có thấm nhập nhiều bạch cầu ưa eosin. Có thể có kèm theo viêm hạt hay viêm cấp các động mạch nhỏ ở vách dạ dày.
6. Loét và chợt cấp tính của dạ dày
Xảy ra cấp tính, khu trú ở niêm mạc dạ dày sau một stress nặng, được gọi là loét do stress. Các tác nhân khác là aspirin, rượu, thuốc lá, thuốc corticosteroid, thuốc nhóm AIWS
Tổn thương thường nhiều ổ, ở bất cứ nơi nào của dạ dày, đôi khi có ở tá tràng, dưới dạng tróc thượng mô nông hoặc tổn thương sâu tới niêm mạc, nhưng không bao giờ xuống sâu hơn. Nếu là loét thì vết loét có giới hạn rõ và không phải là tiền thân của bệnh loét mạn tính và cũng không có cùng cơ chế bệnh. Vết loét thường tròn, nhỏ hơn 1cm đường kính. Đáy loét thường có màu nâu đậm do thấm acid và xuất huyết được phủ bởi hồng cầu với fibrin. Bờ đáy loét ít khi có sung huyết và không rõ vì là loét nông. Bờ và đáy loét không bị cứng. Các nếp gấp niêm mạc vẫn còn. Tùy theo thời gian bệnh, có thể có thấm nhập viêm ở bờ và đáy loét. Không có hoá sẹo hay dày các vách mạch máu.
Hồi phục hoàn toàn sau khi nguyên nhân gây bệnh không còn. Thời gian hồi phục hoàn toàn từ vài ngày đến vài tuần.

Last Updated on Saturday, 29 July 2017 15:42

Hits: 16

Cách phòng và phát hiện bệnh ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày là căn bệnh nan y, thường gặp ở người lớn tuổi, tỷ lệ bị ung thư ở nam nhiều hơn ở nữ. 

Ung thư dạ dày là giai đoạn cuối của căn bệnh đau dạ dàyVì vậy việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh đau dày sẽ tránh khỏi bệnh ung thư dạ dày

Vậy làm thế nào để có thể phòng và phát hiện bệnh ung thư dạ dày?

phong-ung-thu-da-day

* Cách phát hiện bệnh ung thư dạ dày:

Ban đầu người bệnh thường mệt mỏi, chán ăn. Khi ăn vào thấy ậm ạch khó tiêu, đầy bụng. Đặc biệt, người bệnh cảm thấy khó chịu vùng trên rốn, dưới mũi ức, có thể đau âm ỉ, nóng rát mơ hồ. Hoặc tự nhiên thấy người xanh xao, đặc biệt nhất là cơ thể gầy sút nhiều, có thể tới 5 kg một tháng.

Để chẩn đoán đúng bệnh, bác sĩ cần phải khám kỹ càng; chụp phim Xquang dạ dày dùng thuốc cản quang, nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, sinh thiết chẩn đoán và có thể được chụp ảnh dạ dày qua ống nội soi.

* Phòng bệnh ung thư dạ dày như thế nào?

Ung thư dạ dày có mối liên quan chặt chẽ với khẩu phần ăn chứa nhiều chất hun khói, chất bảo quản thực phẩm và ít hàm lượng rau, hoa quả tươi.

Vì vậy không nên ăn những thực phẩm qua chiên rán nhiều dầu mỡ, hoặc thực phẩm qua hun khói
Ngoài ra, cần tránh xa các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng; ăn nhiều chất bảo quản thực phẩm; lười vận động hoặc béo phì; cần điều trị viêm loét dạ dày triệt để cũng như ngăn ngừa tình trạng lây nhiễm khuẩn helicobacter pylori bằng cách chế biến thức ăn an toàn; nấu thức ăn chín kỹ; ăn thức ăn vừa nấu xong; bảo quản cẩn thận thức ăn đã nấu chín; nấu kỹ lại thức ăn chưa sử dụng hết; tránh để lâu thức ăn chín và sống; rửa tay nhiều lần (trước khi ăn, nấu ăn ...); dùng nước sạch.

* Chữa ung thư dạ dày

Chữa ung thư dạ dày chủ yếu bằng phương pháp mổ cắt đoạn dạ dày có chứa khối u và nạo vét kỹ các hạch bạch huyết của dạ dày.

phau-thuat-da-day
các phương pháp cắt đoạn dạ dày

 Khi khối u đã lớn, xâm lấn rộng không thể cắt bỏ gây hẹp môn vị làm cho bệnh nhân không ăn được thì các bác sĩ sẽ mổ nối dạ dày với ruột để thức ăn lưu thông. Ngày nay nhờ các tiến bộ, mổ dạ dày có thể mổ bằng phương pháp nội soi.

- Điều trị hóa chất sau mổ cũng góp phần cải thiện khả năng sống thêm sau mổ của ung thư dạ dày.
- Điều trị bằng tia xạ hiện nay không áp dụng cho ung thư dạ dày.
Khi có các dấu hiệu nghi ngờ nên đến khám tại các cơ sở y tế có khả năng soi dạ dày, các bệnh viện tuyến tỉnh có khả năng mổ cắt ung thư dạ dày.

Last Updated on Saturday, 29 July 2017 15:42

Hits: 16

Giải phẫu dạ dày

Hiện nay bệnh đau dạ dày ngày một gia tăng, vì vậy việc giải phẫu dạ dày có thể giúp cho quá trình tìm hiểu bệnh cũng như điều trị bệnh tốt hơn.

Mục tiêu của bài "giải phẫu dạ dày" là giúp bạn đọc biết được vị trí hình thể ngoài, cấu tạo; Mô tả được các vòng động mạch của dạ dày. Đồng thời nó sẽ giúp ích cho việc phân tích căn cơ của căn bệnh dạ dày hỗ trợ quá trình điều trị của các bác sỹ.

Dạ dày hay còn gọi là bao tử, là một bộ phận thuộc hệ tiêu hóa; là đoạn phình to nhất của ống tiêu hoá, có nhiệm vụ dự trữ và tiêu hóa thức ăn nối giữa thực quản và tá tràng.

 I. Hình thể ngoài

hinh-the-da-day

1. Tâm vị
Tâm vị là một vùng rộng khoảng từ 3 đến 4 cm2, nằm gần thực quản có lỗ tâm vị. Lỗ này thông thực quản với dạ dày, không có van đóng kín mà chỉ có nếp niêm mạc. Ở người sống, lỗ tâm vị nằm sau sụn sườn 7 trái, trước thân đốt sống ngực X và lệch bên trái đường giữa khoảng 2,5cm.
2. Đáy vị
Đáy vị là phần phình to hình chỏm cầu, ở bên trái lỗ tâm vị, ngăn cách với thực quản bụng bởi một khuyết gọi là khuyết tâm vị. Đáy vị thường chứa không khí, nên dễ nhìn thấy trên phim X quang.
3. Thân vị
Nối tiếp phía dưới đáy, hình ống, có 2 thành và 2 bờ. Giới hạn trên là mặt phẳng ngang qua lỗ tâm vị và dưới là mặt phẳng xiãn qua khuyết goïc của bờ cong vị nhỏ.
4. Phần môn vị
Gồm có 2 phần.
4.1. Hang môn vị: tiếp nối với thân vị chạy sang phải và hơi ra sau.
4.2. Ống môn vị: thu hẹp lại trông giống cái phễu và đổ vào môn vị.
5. Môn vị 
Mặt ngoài của môn vị có tĩnh mạch trước môn vị. Sờ bằng tay bao giờ cũng sẽ nhận biết được môn vị hơn là nhìn bằng mắt. Ở giữa môn vị là lỗ môn vị thông với hành tá tràng. Lỗ nằm ở bên phải đốt sống thắt lưng 1.

II. Cấu tạo dạ dày

Gồm 5 lớp.
1. Lớp thanh mạc
Nằm ngoài cùng, thuộc lá tạng của phúc mạc và là sự liên tục của mạc nối nhỏ phủ 2 mặt trước và sau của dạ dày. Đến bờ cong vị lớn, chúng liên tục với mạc nối lớn và mạc nối vị lách.
2. Tấm dưới thanh mạc
Là tổ chức liên kết rất mỏng, đặc biệt ở hai mặt trước và sau của dạ dày, lớp thanh mạc gần như dính chặt vào lớp cơ trừ ở gần 2 bờ cong vị dễ bóc tách hơn vì tổ chức này dày lên nhờ chứa mỡ và các bó mạch thần kinh.
3. Lớp cơ 
Kể từ ngoài vào trong gồm có: 

3.1. Cơ dọc

Liên tục với các thớ cơ dọc của thực quản và tá tràng và dày nhất dọc theo bờ cong vị nhỏ.
3.2. Cơ vòng
Ở giữa bao kín toàn thể dạ dày, đặc biệt là môn vị tạo nên cơ thắt môn vị rất chắc.
3.3. Thớ cơ chéo
Là một lớp không hoàn toàn, chạy vòng quanh đáy vị và đi chéo xuống dưới về phía bờ cong vị lớn.

4. Tấm dưới niêm mạc
Là tổ chức liên kết rất lỏng.
5. Lớp niêm mạc
Lót mặt trong của dạ dày. Lớp này lồi lõm xếp thành các nếp, phần lớn chạy theo chiều dọc, nhất là dọc theo bờ cong nhỏ, các nếp trong đều và liên tục hơn tạo thành rãnh gọi là ống vị. Mặt của niêm mạc nổi lên rất nhiều núm con, có kích thước thay đổi từ 1mm đến 6mm. Trên mặt núm có nhiều hố ngăn cách nhau bởi các nếp theo mao vị. Hố là ống tiết của tuyến dạ dày. Các tuyến này tiết ra khoảng 2 lít dịch vị trong 24 giờ.

IV. Mạch máu của dạ dày
Bắt nguồn từ động mạch thân tạng. Động mạch thân tạng là nhánh của động mạch chủ bụng tách ra ngay dưới cơ hoành, ngang mức giữa đốt sống ngực 12 và đốt sống thắt lưng 1. Ngay sau khi xuất phát động mạch chia thành 3 ngành là: động mạch vị trái, động mạch lách và động mạch gan chung.
1. Vòng mạch bờ cong vị bé 
1.2. Bó mạch vị phải
- Động mạch vị phải thường xuất phát từ động mạch gan riêng. Trong cuống gan động mạch ở trước và bên trái, đến bờ cong nhỏ chia làm 2 nhánh đi lên để nối với 2 nhánh của động mạch vị trái.
- Tĩnh mạch vị phải kèm theo các động mạch và đổ vào tĩnh mạch cửa.
1.3. Bó mạch vị trái
- Động mạch vị trái xuất phát từ động mạch thân tạng, đội lên một nếp phúc mạc thành nếp vị tụy trái đến bờ cong nhỏ, ở 1/3 trên chia thành 2 nhánh: trước và sau, bó sát thành bờ cong nhỏ để xuống nối với 2 nhánh của động mạch vị phải.
- Đường kính trung bình của động mạch vị trái là 2,5mm, trong một số trường hợp, động mạch vị trái còn cho nhánh đến thuỳ gan trái.
- Tĩnh mạch vị trái phát sinh tâm vị đi kèm theo động mạch và đổ vào các nhánh của tĩnh mạch cửa.
2. Vòng mạch bờ cong vị lớn

vong-dng-mach-da-day

3. Những động mạch vị ngắn
Phát sinh từ động mạch lách hay một nhánh của nó, chừng 5-6 nhánh qua mạc nối vị lách phân phối cho phần trên bờ cong vị lớn.
4. Động mạch vùng đáy vị và tâm vị
Gồm có:
- Các nhánh thực quản phát sinh từ động mạch vị trái, đi ngược lên phân phối cho mặt trước và sau vùng tâm vị và đáy vị.
- Động mạch sau lách từ động mạch lách đi trong dây chằng vị hoành phân phối cho đáy vị và mặt sau thực quản.
- Các động mạch hoành dưới trái cho nhánh đến mặt sau tâm vị.
Tóm lại, tất cả các động mạch tạo thành một mạng lưới thông nối ở 2 mặt dạ dày, đặc biệt là trong niêm mạc có sự thông nối động tĩnh mạch.

V. Thần kinh dạ dày
Dạ dày được chi phối bởi 2 thân thần kinh lang thang trước và sau thuộc hệ giao cảm và những sợi thần kinh từ đám rối tạng thuộc hệ giao cảm.  Hy vọng với bài viết "giải phẫu dạ dày" này phần nào giúp được các em học sinh học tốt hơn trong môn Sinh học!

Last Updated on Saturday, 29 July 2017 15:41

Hits: 19

Giải phẫu bệnh viêm dạ dày

Viêm đau dạ dày là thực thể bệnh lý rõ ràng. Nhưng thuật ngữ viêm đau dạ dày thường bị lạm dụng để giải thích một số triệu chứng nhẹ hay tạm thời như ợ chua, ăn khó tiêu... Ngược lại, bệnh viêm dạ dày có thể không gây triệu chứng lâm sàng nào cả.

Có 2 nhóm viêm dạ dày: cấp tính và mạn tính. Mỗi nhóm có những loại khác nhau.

giai-phau-da-day
Bộ phận dạ dày

1. Viêm dạ dày cấp tính

Tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc dạ dày, thường có tính chất tạm thời, có thể kèm xuất huyết trong niêm mạc và nặng hơn có thể kèm viêm chợt niêm mạc.

viem-da-day-cap

* Sinh bệnh học

- Do dùng các loại kháng viêm không corticoid (AINS: Anti inflammatory non-steroid) hoặc thuộc nhóm corticoid hoặc Aspirin lâu ngày, uống nhiều rượu, hút thuốc lá nhiều, uống các hoá chất điều trị ung thư, tăng urê huyết, nhiễm khuẩn toàn thân (như sốt thương hàn), ngộ độc thức ăn có tụ cầu khuẩn, stress nặng (như phỏng nặng, chấn thương, mổ), sốc, tia xạ... Các yếu tố này đều có thể làm tăng mức chế tiết acid, làm giảm mức sản xuất bicarbonat đệm, làm giảm lưu lượng máu, do đó, làm cho acid ứ đọng và làm thương tổn niêm mạc dạ dày.

* Biểu hiện:

Nếu bệnh nhẹ thì thường không gây triệu chứng. Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị ói ra máu, đau bụng cấp tính, đi cầu ra máu, ói, buồn nôn. Ở Anh, 25% trường hợp bệnh nặng kèm đi cầu và ói ra máu có liên quan đến việc sử dụng Aspirin hoặc AIWS.

2. Viêm dạ dày mạn tính

* Sinh bệnh học

Các khảo sát lâu ngày trên các bệnh nhân bị viêm dạ dày mạn tính nông cho thấy lớp niêm mạc dạ dày có thể hồi phục hoặc có thể teo đét. Vì vậy viêm dạ dày nông có thể là giai đoạn đầu của các tổn thương niêm mạc nặng hơn.

viem-da-day-man

- Viêm dạ dày vùng đáy vị: có 2 đối tượng bệnh nhân:

+ Ở người lớn thiếu máu ác tính. Trong nhóm thiếu máu ác tính, bệnh có nguyên nhân tự miễn dịch. Những bệnh nhân này có tổn thương nặng ở niêm mạc như viêm teo, teo dạ dày với mất hoàn toàn hay gần hoàn toàn các tế bào thành, vì vậy sẽ thiếu hay không có acid.
+ Trong nhóm bệnh nhân già không có thiếu máu ác tính thì cũng có 60% có tự kháng thể chống lại tế bào thành nhưng không có kháng thể chống yếu tố nội tại. Một số bệnh nhân này có thiếu máu nhược sắc. Bệnh cũng có trên thân nhân của những bệnh nhân của nhóm trên. Trên những thân nhân này lại không có các tự kháng thể. Vì vậy, nguyên nhân sinh bệnh trên nhóm bệnh nhân này vẫn chưa được biết rõ.
- Viêm dạ dày vùng hang vị:
Có nguyên nhân khác hẳn với viêm dạ dày vùng đáy vị. Rất ít trường hợp có tự kháng thể chống lại tế bào tiết gastrin. Thường thường, bệnh nhân đồng thời có thêm bệnh loét dạ dày cho nên người ta nghĩ rằng có thể nguyên nhân của cả 2 bệnh là sự rối loạn hoạt động cơ vòng môn vị, sự trào ngược acid mật và lysolecithin.

* Biểu hiện:

Bệnh có thể không có triệu chứng hoặc có triệu chứng giống như viêm cấp tính gồm đau, khó chịu ở thượng vị, buồn nôn, ói mửa, đôi khi xuất huyết.
Cần chú ý rằng cả 2 bệnh viêm dạ dày teo đét và teo đét dạ dày dù ở hang vị hay đáy vị đều là tổn thương tiền ung thư. Xuất độ biến thành ung thư cao hơn ở nhóm bệnh viêm đáy vị kèm thiếu máu ác tính, với tỉ lệ 7-10% số bệnh nhân.

Viêm dạ dày ở thể nhẹ thường không nguy hiểm, tuy nhiên nếu để tình trạng kéo dài có thể sẽ đẫn đến ung thư dạ dày.

Bạn mất bao nhiêu thời gian tìm kiếm được loại thuốc phù hợp để chữa khỏi bệnh dạ dày. Hãy trải nghiệm cùng Hoa Việt vị quản thống

Thuốc chữa bệnh đau dạ dày Hoa Việt vị quản thống
thuoc chua benh dau da day hoa viet vi quan thong

 Tham khảo: Viêm loét dạ dày | Chế độ ăn cho người viêm loét dạ dày | Bệnh đau thượng vị  | Nguyên nhân đau dạ dày Viêm trợt hang vị dạ dày  triệu chứng của bệnh đau dạ dày | dấu hiệu đau dạ dày

Last Updated on Saturday, 29 July 2017 15:41

Hits: 17

Cấu tạo dạ dày

Dạ dày (còn gọi là bao tử) là một bộ phận trong hệ tiêu hóa, có nhiệm vụ dự trữ và tiêu hóa thức ăn. Bị bệnh đau dạ dày đồng nghĩa với việc nguồn dinh dưỡng đi nuôi cơ thể bị ngưng trệ. Vì vậy việc tìm hiểu cấu tạo dạ dày sẽ giúp ích được nhiều trong việc điều trị bệnh.

Cấu tạo dạ dày:

Dạ dày là một tạng trong phúc mạng. Phía trên nối với thực quản qua lỗ tâm vị, phía dưới nối với thực quản qua lỗ môn vị. Hình dạng giống chữ J.

cau-tao-da-day

* Dạ dày được chia ra các thành phần sau:
1. Tâm vị: Lỗ tâm vị chỉ có một lớp niêm mạc ngăn cách với thực quản.
2. Đáy vị: Bình thường chứa không khí 
3. Thân vị: Phần thân vị chứa các tuyến tiết ra HCl và Pepsinogene
4. Môn vị: Lỗ môn vị có một cơ thắt thật sự được gọi là cơ thắt môn vị.
* Cấu tạo dạ dày.
Cấu tạo dạ dày người gồm 5 lớp từ ngoài vào trong.

da-day

- Thanh mạc: tức là lớp phúc mạc tạng bao bọc dạ dày.
- Tấm dưới thanh mạc: Lớp cơ có ba lớp từ ngoài vào trong là cơ dọc, cơ vòng và cơ chéo (chỉ hiện diện ở một phần của thành dạ dày).
- Lớp cơ: cơ dọc, cơ vòng và cơ chéo
- Tấm dưới niêm mạc: Lớp niêm mạc chứa các tuyến của dạ dày. Các tuyến dạ dày gồm nhiều loại, tiết ra các chất khác nhau vừa có vai trò bảo vệ dạ dày như chất nhầy, vừa có vai trò tiêu hóa như HCl như men Pepsinogene... vừa có vai trò nội tiết hay trung gian hóa học như gastrin, histamin...hay yếu tố nội giúp hấp thụ sinh tố B12.
- Lớp niêm mạc chứa các tuyến của dạ dày; bao gồm nhiều loại tiết ra các chất khác nhau. Chúng có vai trò bảo vệ dạ dày như chất nhầy, đồng thời có vai trò tiêu hóa và điều hòa nội tiết hóa học trung gian.
* Chức năng của dạ dày
Dạ dày có 2 chức năng chính là
- Nghiền cơ học thức ăn, thấm dịch vị
- Phân hủy thức ăn nhờ hệ enzym tiêu hóa trong dịch vị.
* Chu trình nạp thức ăn:
Sau khi được nghiền nát một phần bằng động tác nhai và được phân hủy một phần nhỏ nhờ các men có trong nước bọt, thức ăn sẽ được đưa xuống qua một ống cơ trơn gọi là thực quản (ống này nằm song song với khí quản) sau đó là đến dạ dày.
Dạ dày là nơi chứa, nghiền nát, nhào trộn thức ăn với dịch vị. Dạ dày cũng hấp thu chất dinh dưỡng tuy nhiên dựa theo cấu tạo thì chức năng này là không đáng kể.
Sau khi thức ăn được nghiền nát, nhào trộn và thấm dịch vị, chúng sẽ được đưa xuống ruột non để thực hiện công đoạn tiêu hóa và hấp thu sau đó là ruột già và tống ra ngoài theo đường đào thải.

chu-trinh-nap-thuc-anHệ tiêu hóa của người

* Dịch vị trong dạ dày
Bao gồm hỗn hợp các thành phần acid clohidrit (HCl) và enzyme pepsin. 
Dạ dày chia thành 3 vùng cơ bản: hang vị, thân vị và tâm vị ở đó tỷ lệ phân chia các tế bào không đều nhau, nên dạ dày sẽ tiết loại dịch vị axit cũng khác nhau ở mỗi vùng. Chức năng này đảm bảo sự phân chia đồng đều tiêu hóa các loại thức ăn khác nhau.
Axit dịch vị có tác dụng rất mạnh, nó đủ mạnh để có thể đục thủng 1 lỗ trên tấm thảm trải sàn. Để đảm bảo dạ dày không bị axit ăn mòn tồn tại các chất nhầy làm nhiệm vụ trung hòa axit, chất nhầy từ các tế bào phụ tiết ra, chính chất nhầy này và một số chất khác tạo lên một màng dai bao phủ niêm mạc.
Những tế bào của lớp màng này cũng bị hao mòn rất nhanh chóng, toàn bộ niêm mạc dạ dày được thay thế mới 3ngày/lần. Dịch nhầy cũng hỗ trợ cho tiêu hóa bằng cách giữ cho thức ăn luôn ẩm ướt.
Sự mất cân bằng khiến cho lượng chất nhầy thiết hụt, hay sự phát triển dư thừa của axit dịch vị là nguyên nhân chính gây bệnh viêm loét dạ dày.

Last Updated on Saturday, 29 July 2017 15:40

Hits: 27

Cách nhận biết bệnh đau dạ dày

Trong buổi giao lưu và khám chữa bệnh miễn phí gần đây của công ty. Có một số bạn trẻ có chung câu hỏi rằng: làm thế nào để biết được mình đang mắc bệnh đau dạ dày?

000anh tien

Thạc sỹ, Bác sỹ đông y Dương Đức Tiến - Giám đốc kiêm Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần dược phẩm Hoa Việt đã trả lời các bạn trẻ như sau:

Bệnh đau dạ dày hiện nay rất phổ biến, không loại trừ lứa tuổi nào. Việc nhận biết được bệnh là một điều rất quan trọng đối với quá trình chữa trị. Vì nếu bệnh không được phát hiện sớm thì sẽ rất nguy hiểm, nhiều trường hợp để lâu quá dẫn đến ung thư dạ dày và gây tử vong.

Dưới đây là những dấu hiệu nhận biết bệnh đau dạ dày:

 

 - Tự nhiên cảm thấy chán ăn, cơ thể suy nhược mà không rõ lý do

- Hay đau râm râm vùng bụng, cảm giác cồn cào, đau rát vùng bụng

- Hay bị ợ hơi, chướng bụng

- Ợ chua, buồn nôn liên tục (cũng không rõ lý do)

- Đau vùng thượng vị

dau-thuong-vi

Còn khi có những dấu hiệu nặng hơn như dưới đây thì bạn nên khẩn trương đi kiểm tra. Tránh tình trạng để lâu quá.

- xuất huyết dạ dày

- chảy máu tiêu hóa

- xuất hiện những cơn đau dữ dội, đột ngột

Bạn mất bao nhiêu thời gian tìm kiếm được loại thuốc phù hợp để chữa khỏi bệnh dạ dày. Hãy trải nghiệm cùng Hoa Việt vị quản thống. Chúc các bạn luôn mạnh khỏe và không còn phải lo lắng về bệnh đau dạ dày nữa.

GIẢI PHÁP CHO NGƯỜI ĐAU DẠ DÀY

thuoc-chua-benh-dau-da-day-hvvqtSa nhân: giúp tiêu hoá tốt, chữa đau bụng lạnh, đầy hơi, ăn không tiêu, đi tả, nôn oẹ, động thai; Cam thảo: làm lành các vết loét dạ dày, giảm co thắt cơ, giảm tiết acid chlorhydric...; Bạch truật: giúp tiêu hoá ốt, trị bệnh đau dạ dày, nôn mửa, ỉa chảy, phân sống, viêm rột mạn tính, phù thũng; Bán hạ: chữa bụng đầy chướng, tiêu hoá kém, chống nôn trị ho, nhiều đờm; Trần bì: chữa tiêu hoá kém, ngực bụng đầy chướng, ợ hơi, nôn mửa, ỉa chảy, tiêu đờm; Phục linh: tẩy độc cơ thể, bổ dạ dày, khỏe gân cốt, làm cho ra mồ hôi, chữa đau khớp xương; Đẳng sâm: chữa tỳ vị kém, phế khí hư nhược, kém ăn, đại tiện lỏng, mệt mỏi, ốm lâu ngày, cơ thể suy nhược, bổ dạ dày, lợi tiểu tiện, chữa ho tiêu đờm; Mộc hương: có tác dụng hành khí chỉ thống, kiện tỳ tiêu tích.

Last Updated on Saturday, 29 July 2017 15:40

Hits: 16

Bị ợ chua, buồn nôn phải làm sao?

Lê Minh Hòa - 26 tuổi (Kim Bảng - Hà Nam)

Gần đây tôi hay bị ợ chua, đau bụng, và buồn nôn liên tục. Nghe người quen giới thiệu tôi có tìm đến Công ty cổ phần dược phẩm Hoa Việt, được dược sỹ chẩn đoán là bị đau dạ dày và kê đơn thuốc đau dạ dày Hoa Việt vị quản thống cho tôi uống. Tôi uống hơn 1 tháng thì không thấy những biểu hiện trên xuất hiện nữa. Vậy cho tôi hỏi không uống thuốc nữa có bị đau lại không. Tôi có nên uống thuốc này liên tục không?

000anh tien
Thạc sỹ - Bác sỹ đông y Dương Đức Tiến

Bác sỹ Dương Đức Tiến trả lời câu hỏi của bạn Lê Minh Hòa như sau:
Bạn bị ợ chua, buồn nôn, đau bụng, đây là những dấu hiệu của bệnh đau dạ dày, bệnh của bạn đang ở thể nhẹ nên sau khi dùng thuốc vị quản thống thì hết đau là do thuốc này có tác dụng làm trung hòa axit, giúp giảm các triệu chứng trên.
Tuy nhiên, nếu bạn không có chế độ ăn uốg và sinh hoạt lành mạnh thì bệnh có thể quay lại bất cứ lúc nào. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây rằng, bạn nên kết hợp với chế độ ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý.

Hơn nữa, bạn nên dùng thêm thuốc từ 2 đến 3 đợt nữa cho bệnh ổn định hẳn. Thuốc đau dạ dày Hoa Việt vị quản thống do công ty sản xuất có thành phần 100% từ thảo dược, không gây tác dụng phụ, không mệt mỏi mà còn tốt cho dạ dày. Bạn có thể dùng khi nào cảm thấy bệnh tình ổn định hẳn thì dừng.

Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe.

 

GIẢI PHÁP CHO NGƯỜI ĐAU DẠ DÀY

thuoc-chua-benh-dau-da-day-hvvqtSa nhân: giúp tiêu hoá tốt, chữa đau bụng lạnh, đầy hơi, ăn không tiêu, đi tả, nôn oẹ, động thai; Cam thảo: làm lành các vết loét dạ dày, giảm co thắt cơ, giảm tiết acid chlorhydric...; Bạch truật: giúp tiêu hoá ốt, trị bệnh đau dạ dày, nôn mửa, ỉa chảy, phân sống, viêm rột mạn tính, phù thũng; Bán hạ: chữa bụng đầy chướng, tiêu hoá kém, chống nôn trị ho, nhiều đờm; Trần bì: chữa tiêu hoá kém, ngực bụng đầy chướng, ợ hơi, nôn mửa, ỉa chảy, tiêu đờm; Phục linh: tẩy độc cơ thể, bổ dạ dày, khỏe gân cốt, làm cho ra mồ hôi, chữa đau khớp xương; Đẳng sâm: chữa tỳ vị kém, phế khí hư nhược, kém ăn, đại tiện lỏng, mệt mỏi, ốm lâu ngày, cơ thể suy nhược, bổ dạ dày, lợi tiểu tiện, chữa ho tiêu đờm; Mộc hương: có tác dụng hành khí chỉ thống, kiện tỳ tiêu tích.

Last Updated on Saturday, 29 July 2017 15:39

Hits: 16

Bị đau dạ dày-bệnh nhân Cao Ngọc Thắng

Họ và tên bệnh nhân: Cao Ngọc Thắng (bị bệnh đau dạ dày)

Địa chỉ: xóm 6, thị trấn Ba Sao, huyện Kim Bảng, Tỉnh Hà Nam

Mô tả bệnh: Anh bị đau dạ dày mấy năm, bất kỳ lúc nào ăn đồ chua là bị đau bụng hoặc uống rượu vào là bị đau dữ dội. Khi đói cũng đau, khi no cũng đau. Có những lúc a phải vật lộn với những cơn đau, người toát mồ hôi.
thuoc-chua-benh-dau-da-day-hvvqt

Khi biết thông tin sản phẩm thuốc đau dạ dày Hoa việt vị quản thống của Công ty cổ phần dược phẩm Hoa Việt a đã tìm đến Công ty. Tại đây a được bác sỹ Dương Đức Tiến hỏi thăm và tư vấn nhiệt tình.

Sau khi biết tình trạng bệnh Bác sỹ Dương Đức tiến đã kê đơn thuốc cho anh.

Kết quả: khi dùng thuốc chữa bệnh đau dạ dày Hoa Việt vị quản thống khoảng 1-2 tháng, bệnh biến chuyển khá nhanh, kết hợp với ăn uống điều độ trong một thời gian, bệnh của anh gần như đã khỏi hẳn. 

Anh Cao Ngọc Thắng rất lấy làm mừng vì chứng bệnh đau dạ dày đã không còn hành hạ a nữa. Có lần a đã đến tận Công ty để cảm ơn Bác sỹ Dương Đức Tiến cùng cán bộ công nhân viên công ty.

 Nếu bạn có thắc mắc hãy nhắn tin vào hệ thống của chúng tôi (góc bên phải màn hình website) hoặc để lại câu hỏi và số điện thoại hoặc gọi điện trực tiếp cho chúng tôi để được tư vấn và chăm sóc một cách tốt nhất.

Thuốc chữa bệnh đau dạ dày Hoa Việt vị quản thống

 

Last Updated on Saturday, 29 July 2017 15:39

Hits: 16

Xuất huyết dạ dày và cách phòng ngừa

Xuất huyết dạ dày là một trong những dấu hiệu đau dạ dày rõ rệt nhất. Đây là hậu quả của quá trình xuất hiện các bệnh lý dạ dày kéo dài, không điều trị tận gốc, gây chảy máu niêm mạc dạ dày, ói ra máu…

xuat-huyet-da-day
xuất huyết dạ dày nếu không cấp cứu ngay có thể dẫn đến tử vong

* Nhận diện triệu chứng:
Biểu hiện của xuất huyết dạ dày thể nặng khi nôn ra máu đỏ tươi hoặc bầm đen, đi đại tiện phân đen, sệt, mùi hôi, trường hợp nặng đii đại tiện phân có máu đỏ do có lẫn máu. Kèm theo đó là triệu chứng toát mồ hôi, choáng váng, chóng mặt, đau hay nóng rát vùng bụng trên rốn.
* Nguyên nhân gây xuất huyết dạ dày:
- Do bị bệnh đau dạ dày, loét dạ dày là nguyên nhân hay gặp nhất, gây tình trạng nôn ra máu, đi đại tiện phân đen. Nguyên nhân có thể do uống rượu, bia quá nhiều, dùng các thuốc giảm đau, kháng viêm nhiều, do căng thẳng, buồn phiền, lo âu nhiều, kéo dài. Ngoài ra, do chế độ ăn uống, nghỉ ngơi không điều độ, bỏ ăn, ăn không đúng giờ, để quá đói hoặc ăn quá no.
- Do viêm loét thực quản
- Chảy máu do u dạ dày hay ung thư
- Hội chứng Mallory Weiss: hội chứng nôn nhiều do bất kì nguyên nhân gì, khi nôn quá nhiều , niêm mạc dạ dày trầy xước , gây chảy máu.
* Điều trị:
Khi gặp những trường hợp có dấu hiệu như trên, bệnh nhân cần phải nhập viện ngay lập tức, không nên tự ý điều trị ở nhà bởi nếu trậm trễ, máu ra nhiều có thể gây tử vong.
Với một số trường hợp bệnh nhẹ, bác sĩ sẽ cho theo dõi thêm ở khoa trong 24-48 giờ, nội soi dạ dày và nếu không còn chảy máu thì có thể xuất viện, uống thuốc theo đơn của bác sĩ.
Trường hợp bệnh nhân bị xuất huyết dạ dày do loét có nhiễm vi trùng Hp thì sau khi điều trị ngưng chảy máu sẽ được điều trị bằng kháng sinh trong 10-14 ngày, sau đó sẽ điều trị bằng thuốc làm lành vết loét trong 6-8 tuần.Bệnh nhân sau khi điều trị đủ phác đồ nên đi khám và nội soi dạ dày lại để biết được đã hết bệnh hay chưa.
* Biện pháp phòng ngừa.
- Để phòng tránh bị nhiễm vi trùng HP , nên ăn uống hợp vệ sinh , ăn chín uống sôi vì vi trùng này lây nhiễm qua đường tiêu hóa, ăn uống. Nếu trong gia đình có người nhiễm vi trùng Hp phải điều trị dứt điểm để tránh lây qua choi người khác.
- Sử dụng các thuốc chống viêm , giảm đau theo đúng chỉ định của bác sĩ, tránh tự ý mua thuốc dùng.
- Có chế độ ăn uống hợp lý, luyện tập thể dục thể thao tăng cường sức khỏe. Cần có cuộc sống thoải mái về tinh thần, tránh bị stress, căng thẳng.
- Hạn chế uống rượu bia.
- Khi có tình trạng khó chịu, đau vùng trên rốn, ợ hơi, ợ chua,…nên đi khám, làm xét nghiệm, nội soi và điều trị theo đúng chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Nếu bị xuất huyết dạ dày mà không cấp cứu kịp thời gây ra mất máu nhiều, dễ dẫn đến tử vong cao.

Có rất nhiều trường hợp xuất huyết dạ dày do viêm loét quá lâu. Để tránh tình trạng này bạn hãy sử dụng bài thuốc chữa bệnh đau dạ dày Hoa Việt vị quản thống như bác Vũ Văn Cư (Nghệ An).
Bài viết: Bác Cư ổn định dạ dày sau khi bị xuất huyết nhờ Hoa Việt vị quản thống

 

Last Updated on Saturday, 29 July 2017 15:38

Hits: 15

QC

Tiền liệt tuyến hay còn gọn là tuyến tiền liệt là một tuyến của hệ sinh sản nam. Trong khoảng 7 tuần lễ đầu của thời kỳ bào thai, cơ quan hóa sinh dục dục của hai giời nam nữ có bề ngoài giống nhau, sau đó mới biệt hóa và phát triển hình thái đặc thù, cho từng giới cả bên trong lẫn bên ngoài. Tuyến tiền liệt có kích thước như quả hạt dẻ, to, dẹt, chỉ có ở nam giới, nằm trước trực tràng, ngay dưới bàng quang và bao quanh ống niệu đạo, gồm hai múi. Tiền liệt tuyến chính là vết tích của tử cung còn sót lại, thường không được biết đến trừ phi nó to ra (Phì đại tiền liệt tuyến) khi đã có tuổi.

 

Trao đổi liên kết

Bị thoái hóa đốt sống cổ liên hệ ngay với tê thấp lý sáng để chữa Đau thần kinh tọa

Viêm Tiền Liệt Tuyến hãy chữa ngay không sẽ gây biến chứng thành Ung Thư Tiền Liệt Tuyến rất nguy hiểm